Category Archives: Tiếng Việt

Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới khu thương mại tự do như động lực tăng trưởng mới

Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội hiếm có để thiết lập và phát triển khu thương mại tự do (FTZ) liên kết với các trung tâm sản xuất, logistics và dịch vụ thương mại, một bước đi có thể tạo ra động lực tăng trưởng mới cho thành phố và khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam.

Đánh giá này được nhấn mạnh tại hội thảo “Kết nối khu vực – Động lực phát triển khu thương mại tự do Thành phố Hồ Chí Minh”, do báo Tuổi Trẻ, Sở Công Thương, Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Quản lý Khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức ngày 27 tháng 1.

Trần Xuân Toàn, Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, cho biết kết nối khu vực đang được cải thiện nhanh chóng nhờ một loạt các dự án cơ sở hạ tầng chiến lược, bao gồm đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, đường cao tốc Bến Lục – Long Thành, mở rộng đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giấy và các tuyến đường sắt dự kiến.

Kết hợp với các cơ chế đặc biệt về thuế, thủ tục hành chính, tài chính và phát triển nguồn nhân lực theo Nghị quyết 98 và Nghị quyết 260 của Quốc hội, thành phố hiện đã có nền tảng pháp lý thuận lợi để theo đuổi phát triển khu thương mại tự do, ông cho biết.

Tại hội thảo, Tiến sĩ Đỗ Thiên Anh Tuấn thuộc Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright cùng các chuyên gia khác cho rằng cụm cảng Cái Mép – Thị Vai có tiềm năng mạnh mẽ để trở thành trung tâm kinh tế hàng hải và khu thương mại tự do hàng đầu Đông Nam Á. Đây là một trong số ít cảng biển nước sâu trong khu vực có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải hơn 200.000 tấn.

So với cảng Vân Phong ở miền Bắc Việt Nam, khu vực Cái Mép – Thị Vai – đặc biệt là Cái Mép Hà – có lợi thế vượt trội nhờ vị trí gần các trung tâm công nghiệp lớn, khối lượng hàng hóa lớn và hệ thống logistics phát triển tốt, các chuyên gia nhận định.

“Việt Nam có hai siêu cảng có khả năng tiếp nhận tàu lớn, nhưng Vân Phong lại thiếu nguồn hàng hóa và hỗ trợ công nghiệp cần thiết”, Tiến sĩ Tuấn cho biết. “Nếu chỉ nhìn nhận Cái Mép Hà như một lợi thế địa lý cho Thành phố Hồ Chí Minh mà không coi đó là nền tảng cho một khu thương mại tự do, thì đó sẽ là một cơ hội bị bỏ lỡ.”

Từ góc độ khu vực, ông Vũ Chí Kiến, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra rằng việc hội nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu vào không gian phát triển của thành phố đã tạo ra một siêu vùng đô thị – công nghiệp – logistics rộng hơn 6.770 km2.

Trong cấu trúc này, Cái Mép Hà được định vị là cửa ngõ hàng hải quốc tế và là vị trí chiến lược cho một khu thương mại tự do, đóng vai trò là “đầu mối” để định hình lại chuỗi giá trị khu vực.

“Khu thương mại tự do Thành phố Hồ Chí Minh, hay Khu thương mại tự do Cái Mép Hà, nên hướng tới logistics và thương mại liên kết với cảng biển nước sâu,” ông Kiến đề xuất. “Các chức năng cốt lõi của nó sẽ là trung chuyển quốc tế, phân phối khu vực, dịch vụ logistics cảng và các hoạt động thương mại liên quan đến hàng hải.”

Nhà kinh tế Trần Du Lịch cho biết, những sửa đổi theo Nghị quyết 260 đã trao cho Thành phố Hồ Chí Minh quyền tự chủ đáng kể, đặc biệt là trong việc phát triển khu thương mại tự do gắn liền với tổ hợp cảng Cái Mép – Thị Vai.

“Vấn đề then chốt hiện nay không còn là yêu cầu thêm cơ chế, mà là làm thế nào để tổ chức thực hiện hiệu quả”, ông nói, lưu ý rằng trên toàn thế giới có khoảng 5.600 khu thương mại tự do và thành phố cần xác định đúng lợi thế và các ngành chiến lược.

Ông đề xuất ưu tiên các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, gắn liền với chuỗi giá trị toàn cầu, bao gồm chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, vật liệu mới, năng lượng và cơ sở hạ tầng số, cũng như sản xuất thiết bị cho khai thác dầu khí ngoài khơi và điện gió ngoài khơi.

Để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, khu thương mại tự do của thành phố cần chứng minh quy mô thị trường dài hạn và khả năng hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu, ông nói thêm.

Một số quốc gia châu Á, bao gồm Malaysia, Việt Nam và Thái Lan, đã tăng cường các biện pháp kiểm soát biên giới để ngăn chặn sự xâm nhập của virus Nipah

Sau đợt bùng phát virus Nipah gần đây ở Tây Bengal, Ấn Độ, một số quốc gia châu Á, bao gồm Malaysia, Việt Nam và Thái Lan, đã tăng cường các biện pháp kiểm soát biên giới để ngăn chặn virus xâm nhập vào nước này.

Bộ Y tế Malaysia đã ra tuyên bố vào ngày 28, cho biết họ đã tăng cường sàng lọc sức khỏe tại các điểm nhập cảnh đối với virus Nipah, tập trung vào du khách đến từ các khu vực có nguy cơ cao. Đồng thời, các bộ phận liên quan đang tăng cường hợp tác, chuẩn bị ứng phó và nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo sớm và ứng phó khẩn cấp. Bộ Y tế cũng khuyến cáo người dân, đặc biệt là những người đi du lịch đến các khu vực có nguy cơ cao, cần chú ý đến vệ sinh cá nhân và tránh tiếp xúc với động vật bị bệnh hoặc ăn thực phẩm bị nhiễm khuẩn.

Truyền thông Việt Nam đưa tin ngày 28/00 rằng Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành thông báo khẩn cấp cho các sở y tế và phòng chống dịch bệnh trên cả nước, yêu cầu tăng cường phòng chống dịch virus Nipah tại các cửa khẩu biên giới, cơ sở y tế và cộng đồng, giám sát chặt chẽ người nhập cảnh và đảm bảo phát hiện sớm, xử lý nhanh chóng các trường hợp nghi nhiễm. Tính đến ngày 27/00, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp nhiễm virus Nipah nào.

Indonesia và Thái Lan cũng đã tăng cường kiểm tra tại các sân bay lớn, yêu cầu người nhập cảnh khai báo sức khỏe và kiểm tra thân nhiệt. Cơ quan y tế Myanmar khuyến cáo người dân tránh đi du lịch đến Tây Bengal, Ấn Độ và tăng cường kiểm tra thân nhiệt đối với người đến từ Ấn Độ tại các sân bay.

Virus Nipah thuộc chi Hennipavirus của họ Paramyxoviridae và là một loại virus RNA. Theo Tổ chức Y tế Thế giới và các tổ chức khác, thời gian ủ bệnh của virus Nipah thường từ 4 đến 14 ngày, nhưng có thể lên đến 45 ngày. Do sự khác biệt về khả năng giám sát dịch tễ học và điều trị lâm sàng ở các khu vực bùng phát dịch, tỷ lệ tử vong dao động từ 40% đến 75%.

Hiện tại, chưa có thuốc hoặc vắc-xin đặc hiệu nào cho bệnh do virus Nipah gây ra. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn; mặc quần áo bảo hộ và đeo găng tay khi xử lý động vật bị bệnh và các mô của chúng; và tránh tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh mà không có biện pháp bảo vệ.

Việt Nam: Phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm hai chữ số vào năm 2030

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam (CPV) đã bế mạc tại Hà Nội ngày 23 tháng 3. Đại hội đã thông qua nghị quyết đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong 5 năm tới và định hướng phát triển trong tương lai, hướng tới mục tiêu đạt tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm hai chữ số từ năm 2026 đến năm 2030.

Trong bài phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm khẳng định Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 là một cột mốc mới trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tầm nhìn chiến lược, Đại hội đã giao cho Ban Chấp hành Trung ương khóa mới nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm 40 năm thực hiện “Chương trình xây dựng đất nước trong quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội” và 100 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó vạch ra lộ trình phát triển của đất nước trong thế kỷ 10 sau năm 2030. Đại hội kêu gọi các tổ chức Đảng các cấp nhanh chóng nghiên cứu và thực hiện nghị quyết, huy động mọi nguồn lực và phát huy mọi thế mạnh để hoàn thành thành công các mục tiêu và nhiệm vụ do Đại hội đề ra.

Tại cuộc họp báo sau lễ bế mạc, ông Tô Lâm cho biết, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 14 đã đạt được sự đồng thuận cao không chỉ về nội dung các văn kiện và chương trình hành động mà còn về việc lựa chọn các thành viên Ban Chấp hành Trung ương khóa 14. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 14 cũng đã nhất trí thông qua nhiều quyết định lịch sử nhằm đạt được “hai mục tiêu trăm năm” xây dựng đất nước và lập quốc của Việt Nam.

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 14 chính thức khai mạc ngày 20 tháng 5, với sự tham dự của 1.586 đại biểu đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên. Ngày 22 tháng 5, Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa 14 gồm 200 thành viên, trong đó có 180 đại biểu chính quy và 20 đại biểu dự khuyết. Phiên họp toàn thể đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 14 được tổ chức vào ngày 23 tháng 5, bầu ra ban lãnh đạo mới, trong đó bà Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.

Anh và TP.HCM tăng cường hợp tác chuyển đổi số y tế

Hai bản ghi nhớ (MOU) đã được ký kết giữa TP.HCM và các cơ quan của Anh tại Hội nghị Chuyển đổi số Y tế Anh – Việt Nam, diễn ra tại thành phố vào ngày 27 tháng 1, đánh dấu bước tiến cụ thể trong hợp tác y tế song phương.

Bản ghi nhớ thứ nhất, được ký kết giữa Tập đoàn Đối tác Phượng Hoàng (TPP) và Hiệp hội Tin học Y tế Việt Nam, tập trung vào hợp tác phát triển và triển khai hồ sơ bệnh án điện tử (EMR) tại Việt Nam giai đoạn 2026-2031.

Bản ghi nhớ thứ hai được ký kết giữa Phòng thí nghiệm Đổi mới Y tế Cộng đồng thuộc Đại học Liverpool và Đại học Y Dược TP.HCM, nhằm tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi kiến ​​thức và đào tạo y tế. Sự hợp tác này cũng là một trong những sáng kiến ​​y tế trọng điểm thuộc quan hệ đối tác thành phố – thành phố Liverpool – TP.HCM.

Trao đổi với VnEconomy/Vietnam Economic Times, Giáo sư Iain Buchan, Phó Hiệu trưởng phụ trách Đổi mới và Giám đốc Phòng thí nghiệm Đổi mới Sức khỏe Con người tại Đại học Liverpool, đã phác thảo tầm nhìn về sự hợp tác giữa Đại học Liverpool và Đại học Y Dược TP.HCM.

Theo Giáo sư Buchan, sự hợp tác này nhằm mục đích phát triển các giải pháp AI thực sự phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân bằng cách kết nối dữ liệu, các nhà khoa học dữ liệu, kỹ sư AI, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và cộng đồng tạo ra và sử dụng dữ liệu sức khỏe. Ông nhấn mạnh rằng AI phải hoạt động trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ trong môi trường lâm sàng.

Lấy kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Giáo sư Buchan lưu ý rằng từ một phần ba đến một nửa số thuốc được kê đơn bởi Dịch vụ Y tế Quốc gia không được sử dụng đúng mục đích, cho thấy những lỗ hổng trong việc hiểu hành vi thực tế của bệnh nhân. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của các hệ thống AI có thể tương tác với con người trong cuộc sống hàng ngày để nắm bắt tốt hơn những gì xảy ra ngoài phòng khám.

Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển đổi giáo dục y khoa. “Hai trường đại học này hướng đến việc đào tạo một thế hệ bác sĩ, y tá và dược sĩ mới, những người sẽ làm việc cùng với trí tuệ nhân tạo (AI) như một phần của các nhóm chăm sóc tích hợp,” ông nói. Điều này đòi hỏi các mô hình đào tạo được cập nhật và các bác sĩ lâm sàng không chỉ là người sử dụng AI mà còn là người đóng góp vào sự phát triển của nó, với kiến ​​thức trải rộng trên các lĩnh vực khoa học dữ liệu, AI, y học và dược học.

Giáo sư Buchan nhấn mạnh tiềm năng mạnh mẽ của Việt Nam, ghi nhận những tiến bộ trong phát triển chăm sóc sức khỏe ban đầu và sự chuyển dịch sang các hệ thống y tế kết nối hơn trong môi trường dữ liệu được hỗ trợ bởi AI. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng việc đào tạo trong tương lai không chỉ nên tập trung vào việc áp dụng công nghệ mà còn vào việc định hình và quản lý nó.

Giải quyết thách thức về dân số già hóa, ông nhận thấy cả hai quốc gia đều đối mặt với sự phức tạp ngày càng tăng trong chăm sóc sức khỏe khi người dân sống lâu hơn với nhiều bệnh tật. Thách thức này không chỉ giới hạn trong chăm sóc sức khỏe mà còn mở rộng sang chăm sóc xã hội và hỗ trợ cộng đồng. Ông kêu gọi các mô hình chăm sóc mới hoạt động bên ngoài các cơ sở lâm sàng truyền thống và nhấn mạnh vai trò của “đổi mới y tế công dân”, tích hợp chăm sóc sức khỏe, cộng đồng và chia sẻ thông tin.